DẤU HIỆU CỦA GIẤC MƠ

2088 Words
Tôi vốn không thích viết lách. Từ khi còn rất nhỏ tôi đã ngại cầm bút viết lách. Tôi chỉ khoái đi nhặt các viên đá màu khác nhau và xếp chúng thành một bức tranh hoàn chỉnh. Có lần tôi đã xếp những viên sỏi màu trắng thành hình một con voi. Tôi nhặt các quả mồng tơi và xếp thành một con cá heo. Cho đến khi tôi có hộp chì màu đầu tiên năm 4 tuổi thì tất cả các tờ giấy trong nhà tôi chỉ dành để vẽ. Tôi là Đặng Thái Hòa 32 tuổi. Họa sĩ. Độc thân. Khá điển trai (theo như nhận xét của phái nữ tiếp xúc với tôi). Tôi có một căn nhà 2 tầng, tầng một làm phòng trưng bày tác phẩm với tên Le Ciel (tiếng Pháp có nghĩa là bầu trời). Có rất nhiều bạn bè hỏi tôi rằng tại sao tôi lại đặt tên phòng trưng bày của mình là Le Ciel. Tôi đã kể cho họ về những kỉ niệm lúc còn nhỏ của tôi. Tôi ngồi hóng gió trên chiếc ghế tựa mà bố tôi hay mang ra ban công để ngắm cảnh, uống trà cùng bạn. Tôi luôn cảm thấy thích thú với việc ngước mắt lên trời để quan sát những đám mây bay qua, những con chim bồ câu bay lại. Khi đó, trong đầu óc non nớt của tôi đã nảy nở một niềm ao ước rằng nếu tôi sở hữu một tấm giấy vẽ rộng lớn như bầu trời thì chắc hẳn tôi sẽ là một cậu bé hạnh phúc nhất thế gian này. Đó là lý do cho cái tên Le Ciel mà tôi đặt cho phòng triển lãm tranh của mình. Tầng hai là xưởng vẽ. Căn nhà này (cả đất và nhà) đều là của ông cụ thân sinh tôi. Ông cụ dù chúa ghét cái nghề “lãng tử giời đày” của thằng con trai duy nhất nhưng rồi ông cụ cũng đầu hàng trước sự ngang bướng lì lợm của tôi. Để bảo vệ ước mơ của mình, tôi đã bỏ nhà đi hai lần. Mẹ và chị tôi khóc hết nước mắt. Thế là ông cụ buông xuôi, mặc cho tôi tự xử trí với cuộc đời của mình. Tôi lao vào vẽ. Hạnh phúc tột cùng khi được sống với đam mê mà không ai ngăn trở. Tôi đã vẽ trước khi biết viết chữ và có lẽ sẽ còn tiếp tục vẽ cho đến những ngày cuối cùng của đời mình. Tôi luôn trăn trở về những điều bất khả trong hội họa. Hội họa chỉ có thể phô diễn hào quang của nó trong một thế giới hữu hình. Thế còn thể giới vô hình? Hội họa dường như run rẩy. Tôi luôn muốn vẽ được một mùi hương, một linh hồn, một cơn gió, một ảo ảnh hư vô trong những giấc mơ chập chờn. Thời trẻ tôi đã từng rất cao ngạo nghĩ rằng bản thân tôi có thể làm được những điều gì to tát lắm. Tôi sẽ khai phá những lãnh địa không thể chạm tới của hội họa, tôi sẽ dùng tác phẩm của mình để cứu chuộc những thân phận bị đày đọa, bị mắc kẹt trong sự trớ trêu và đùa cơt của cuộc đời. Thế nhưng sau 10 năm, tôi đã khiêm tốn hơn rất nhiều. Hội họa không phải cái sọt rác để ta có thể ném những mong cầu ích kỷ và dục vong cá nhân vào đó. Điều thiêng liêng nhất của hội họa là khả năng thanh tẩy và cảm hóa. Mà muốn đi đến sự thanh tẩy và cảm hóa, chúng ta phải nhìn rõ chính mình.  Hôm nay là một ngày rất vui. Tôi trở lại trường sau gần 10 năm tốt nghiệp. Gặp lại thầy cũ bạn xưa, quàng vai bá cổ, vui mừng khôn xiết. Dù kẻ mất người còn. Cho dù đã thành danh hay vẫn còn đang lận đận, chúng tôi đều tự hào vì là một phần của Đại học Mỹ thuật Việt Nam, tiền thân là trường Mỹ thuật Đông Dương thuộc viện Đại học Đông Dương. Các thế hệ cựu sinh viên của trường là những người tiên phong, thể nghiệm, sáng tạo và đặt nền móng cho nền hội họa Việt Nam. Tôi tự nhận thấy bản thân mình khá may mắn khi đã trúng tuyển ngay từ lần thi đầu tiên với điểm số khá cao. Tôi đưa mắt khắp cả khán phòng để tìm kiếm anh Trần Đình Phong, một người anh, một người bạn vô cùng thân thiết với tôi. Thường thì những buổi hội họp, gặp gỡ như thế này, mọi người sẽ đều nghe thấy tiếng cười giòn dã của anh trước khi được nhìn thấy hình dáng của anh. Anh luôn như thế. Chưa thấy người đã thấy tiếng. Anh Hữu Quang chạy đến phía tôi hỏi:  - Thái Hòa, lâu quá mới gặp chú! Anh mới xem mấy bức tranh mới của chú về chủ đề Mùa xuân trên tạp chí Mỹ Thuật đó! Khá lắm! Khá lắm!  Anh Hữu Quang trên tôi một khóa, vóc người khá nhỏ nhắn nhưng mau lẹ. Anh làm việc trong thành phố Hồ Chí Minh, đã lâu lắm rồi tôi mới được gặp lại anh. Có lẽ là từ tận sau khi tốt nghiêp đến nay.  - Em cảm ơn anh Hữu Quang. Em cũng phải cố gắng nhiều hơn nữa để bước lên chính mình, tìm kiếm những thể nghiệm mới.  Anh Hữu Quang gật gù rồi hỏi tôi:  - Anh gọi cho Đình Phong mãi mà không được. Tên này lạ thật. Thoắt ẩn thoắt hiện.  - Em cũng tìm kiếm anh ấy nãy giờ mà chưa thấy anh ạ. Đúng là tên sao người vậy. Tên là Phong nên ảnh cũng hay đi mây về gió. - Ha ha! Chú nói phải đấy.  (...) Đêm tĩnh mịch, ngoài phố không một bóng người. Cơn mưa đêm làm mặt đường thẫm một màu xanh đen buồn bã. Những ánh đèn đường vàng vọt nhợt nhạt loang lổ trên nền gạch phố. Tôi không hiểu tại sao tôi lại đi trên con đường này vào giờ này. Tại sao tôi không nằm trong chăn và đánh một giấc ngủ sâu đến tận sáng trong xưởng vẽ. Giữa hàng chục bức tranh dang dở, giữa những chiếc cọ sắp khô và mùi tinh dầu bạc hà. Tôi lê bước chân tiếp tục đi. Bóng tôi đổ dài thành một vệt đen nằm nghiêng trên nền xanh đen buồn bã của con đường. Tôi lôi ra từ trong túi quần một bao thuốc lá hiệu Jet và một chiếc Zippo khắc hình Bhaisajya-guru Vaidurya-prabharajyah (Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai). Tôi nhớ lại câu kinh mà bà tôi đã niệm khi bà còn sống. Lúc đó tôi còn rất nhỏ: "Này Văn Thù Sư Lợi, từ đây hướng đến phương Đông cách mười muôn ức cõi nước chư Phật có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly. Giáo chủ cõi này là Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Mọi người tôn kính. Vì Ngài biết rõ thật tướng các pháp, giải được mọi việc xảy ra trong đời và vượt khó khăn, làm Thầy Trời người, là bậc tôn quý. Khi còn tu hạnh Bồ tát, có phát Mười hai Đại nguyện khiến cho hữu tình cầu chi được nấy…” Những câu kinh và tiếng mõ của bà đã theo tôi suốt một thời tuổi thơ và đến tận bây giờ. Giữa đêm vắng, giữa cô độc và tối tăm. Tôi cứ thế, cứ miệt mài bước đi trên con đường thẫm tối, giẫm lên cái bóng của chính mình, dưới ánh đèn vàng nhợt nhạt. Bỗng, tôi nhìn thấy một căn nhà với cửa đang để ngỏ. Trong nhà có điện và dường như căn nhà với cánh cửa để ngỏ đó như chào đón, như mời gọi người khách bộ hành như tôi. Tôi đánh bạo đi vào trong nhà. Tôi đánh tiếng:  - Xin hỏi có ai ở nhà không ạ?  Không ai trả lời tôi. Tôi mạo muội đi vào bên trong, xung quanh tôi là những bức tranh sơn dầu. Chúng độc đáo và đẹp đến mức chính tôi, một họa sĩ đã 10 năm trong nghề cũng phải bái phục trước vẻ đẹp đó. Khoan đã, những bức tranh này rất quen. Chúng quen thuộc đến mức tôi thấy dường như có sự liên hệ gì đó giữa tôi và người đã vẽ ra các tác phẩm này. Đúng thế, tất cả gần 50 tác phẩm trưng bày trong căn nhà này đều là của một người. Nhưng đó là ai mới được. Tại sao tôi lại ở đây? Nhũng bức tranh này là của ai? Căn nhà này là của ai? Địa điểm này là ở đâu? Và chính tôi? Tôi có thực sự đang tồn tại? Kể cả khi tôi vẫn đang tư duy như lời của một triết gia Pháp: “Je pense, donc je suis” (Tôi tư duy vậy nên tôi tồn tại) (câu nói nổi tiếng của René Descartes) thì có chắc là tôi vẫn đang tồn tại? Tôi mải mê ngắm các bức tranh thì tôi cảm thấy có dòng chảy gì đó với dạng chất lỏng khá đậm đặc, chắc là đậm đặc hơn nước, đang từ từ làm ướt gáy của tôi. Một dòng chất lỏng lành lạnh trườn dần dần từ trên đỉnh đầu xuống phía gáy của tôi ngày một mau lẹ. Tôi quờ tay ra phía sau gáy sờ thử thứ đang làm ướt đẫm cả cổ áo tôi. Tôi xòe lòng bàn tay ra và kinh hãi. Máu. Là máu. Người tôi run bắn.  Tôi đã tỉnh dậy khỏi một giấc mơ như thế. Như mọi khi. Và hai bên thái dương tôi co giật và ướt đẫm mồ hôi. Những giọt mồ hôi túa ra khắp cả đầu, cổ, hai bên nách. Mắt tôi cay xè vì tỉnh giữa giấc ngủ chưa đẫy. Tôi thở hồng hộc. Tôi cảm thấy mệt mỏi và nôn nao. Tôi không thể ngủ tiếp được nữa.  Tôi lần mò tìm bao thuốc Jet và chiếc Zippo. Chúng vẫn ở đây, ngay cạnh tôi. Thật may mắn vì tôi đã không đánh mất chúng trong giấc mơ. (...) Dạo mấy tháng trở lại đây, tôi hay nằm mơ thấy những giấc mơ quái đản. Có lần tôi thấy tôi trần truồng nằm trong một chiếc thuyền nan. Tôi trôi giữa một biển máu. Hơi máu bốc lên tanh lòm, xộc thẳng vào mũi. Tôi vùng vẫy, giãy giụa, con thuyền chao đảo rồi chìm nghỉm xuống dưới lòng đại dương. Một giấc mơ khác còn kinh dị không kém đó chính là tôi mơ thấy tôi rất nổi tiếng, tất cả các tác phẩm của mình tôi được đem đi triển lãm khắp thế giới và được trưng bày trang trọng trong bảo tàng Louve, bên cạnh những kiệt tác hội họa của Leonardo da Vinci, Théodore Géricault, Eugène Delacroix, Quentin Metsys, Jacques-Louis David, Jean Auguste Dominique Ingre, Domenico Ghirlandaio... Thế nhưng đến cuối giấc mơ ngọt ngào đó, tôi nhìn thấy chân dung các danh họa hàng đầu thế giới đó đang đông đậy và tất cả họ đang đổ dồn về phía tôi và các bức tranh của tôi. Sau đó, tất cả các bức tranh của tôi lần lượt tự bốc cháy trước mắt mình. Tôi kinh hãi đứng chôn chân trong đau đơn rồi lao thân vào đám lửa ôm lấy chúng, những đứa con tinh thần mà tôi đã mất hàng đêm trắng để hoàn thành, những tác phẩm lắng đọng những chuỗi ngày lao động nghệ thuật vô cùng chăm chỉ và khổ công của tôi. Tay tôi chạm đến những bức tranh đang bị hủy hoại nhanh chóng bởi ngọn lửa khủng khiếp đó thì toàn thân tôi cũng bốc cháy theo và trong chốc lát tất cả hóa thành tro bụi. Cả tôi và cả những tác phẩm của tôi đều hóa thành tro bụi. Tôi giật mình tỉnh giấc trong sự kinh hãi tột cùng. Biết bao lần tôi đã hoảng hốt tỉnh dậy lúc 4 giờ sáng- thời điểm mà tất thảy loài người đang có giấc ngủ REM.    
Free reading for new users
Scan code to download app
Facebookexpand_more
  • author-avatar
    Writer
  • chap_listContents
  • likeADD