Gia Bảo khá ngạc nhiên, vì cậu nó không những không bắt tội nó, mà còn dịu dàng với nó đến lạ, lại ông thầy kia nữa, mình hù ông ta suýt chút nữa toi mạng mà cũng làm như chưa biết gì. Bao nhiêu là dấu hỏi cứ quấn lấy đầu nó không thôi chẳng ngừng. Nhưng dẫu sao, được tha thứ còn hơn là bị úp mặt vào tường, lại trước bao nhiêu người kia. Ở Pháp quốc, chỉ có nó và bà vú già, nó lại tinh nghịch, chạy hết chỗ này chỗ kia, đến cả cơm nước không buồn ăn, cậu nó thì ở tít trên tỉnh làm việc đến tối mịt mới về. Những lúc như vậy, nó hay bị bảo mẫu bắt lại, quay đầu úp mặt vào góc tường đến khi nào chịu nghe lời thì thôi. Bà vú nghiêm lắm, mặt đanh lại, cứ đứng canh chỗ nó đứng mà giáo điều:
- Ở đây không như xứ An Nam kia mà con tự tung tự tác, con người sống ở đây là phải biết điều, người Pháp họ không nói nhiều, chỉ cần một cái báng súng là con đi đời ngay!
Mặc dù lì vì roi vọt, nhưng Gia Bảo lại sợ tiếng súng và lưỡi lê khi lính Pháp có đợt diễu binh vòng quanh thị trấn, nên mỗi khi nhìn thấy, nó sợ hãi rúc vào lòng bà vú. Mà nhớ lại, những lúc bị phạt, bị dọa những câu như: "Súng kìa, ăn cơm nhanh đi", " Ngồi ngoan không ông quan tây ghim cái lưỡi lê vào người bây giờ" thì thằng bé buộc lòng phải răm rắp nghe theo. Đến tận cái lúc cậu bắt tàu cho về An Nam, nỗi sợ dường như vơi bớt đối với Gia Bảo, nó được ông bà chiều chuộng hết mực, người hầu kẻ hạ cơm bưng nước rót tận miệng nên tính nết lại đâu vào đấy. Nhưng vướng rằng, Nam Tuấn cũng rất nóng tính như bà vú già kia, nên nó không dám ho he gì, nhỡ lại bị bắt úp mặt vào tường lần nữa thì chỉ có chết nhục. Trong thâm tâm của thằng bé, cũng chẳng phục lão thầy kia, nhưng rồi nghĩ đi nghĩ lại cũng là lão ấy giải vậy, thôi đành theo một thời gian vậy.
Ngay ở phòng nghỉ, Hai Trân có chút suy nghĩ. Lúc nói chuyện với Nam Tuấn, dường như trong từng câu chữ của anh ta có gì đó trưởng thành và trải đời hơn. Vẫn là vụ của đám người ở, cậu không tính toán, nên Nam Tuấn đã điều chúng nó đến ruộng ngô để cày cuốc, tránh xa công việc trong nhà. Thôi thì cũng tạm vậy, Hai Trân vẫn nghĩ Nam Tuấn vẫn coi cậu như là khách của cha anh ta, nên có xử sự khách sáo hơn. Nhưng mà có một điều, trong cái ẩn ý của anh ta, lại nhắc tới câu này:
- Lần đầu của cậu à?
"Anh ta nói như vậy có ý gì nhỉ? Lần đầu của mình, mình thì có cái quái gì mà lần đầu cơ chứ? Đúng là cái trò của cha con Tổng đốc, học được ít chữ mà chỉ giỏi xỏ xiên" Hai Trân thầm nghĩ.
Tiết trời chuyển giao từ đông sang xuân. Màu trời như phủ bột trắng, lại thêm chút xam xám lạ, như sắp có trận mưa phùn lạnh lẽo đến cắt cả da thịt. Cuối năm rồi, cây hồng đặt trước phòng học của Hai Trân chỉ toàn lá và mầm non, rung rinh trong gió thoảng. Như thường lệ, lớp học vang đều đều tiếng thầy đọc, trò ngồi dưới xếp bằng tròn để nghe. Gia Bảo từ đợt đó tới giờ đã ngoan hơn trước, nó lễ phép khoanh tay thưa gửi đàng hoàng, một tiếng thầy hai tiếng trò, khiến Hai Trân rất hài lòng. Cu cậu học rất nhanh, chẳng mấy chốc bảng chữ Nôm lẫn cả Tam tự kinh đã đọc được vanh vách, chữ viết không còn gà bới như hồi đầu chống đối thầy nữa. Đúng là một phép màu thực sự.
Nhác trông thấy bác Sáng đang tưới nước cho cây hồng, Hai Trân nhanh tay đỡ lấy cái bình tưới, đáp:
- Bác cứ để cháu làm cho.
- Ấy chết, ai lại để thầy làm việc này.- Bác Sáng xua tay.
Ngày nào cũng vậy, Hai Trân thấy ông bác lúc nào cũng chăm sóc kĩ càng cho đám cây cảnh ngoài sân, khi thì tỉa lá, lúc thì nhổ cỏ, bắt sâu, tưới nước, riêng đối với cây hồng thì chỉ lấy nước tưới vào. Nhiều lúc cậu cũng thắc mắc lắm, nhân buổi trông thấy, cậu hỏi luôn:
- Thứ lỗi cho cháu có tính tò mò. Cây hồng này tại sao chỉ tưới mỗi nước hở bác?
- Thầy...thầy ra chỗ kia văng vắng tôi nói khẽ cái này.- Bác Sáng liền kéo cậu qua chỗ vắng kia, đoạn tiếp lời thủ thỉ. - Nói thật cho thầy hay, cái cây hồng này là một tay mợ Hạnh, vợ ông chủ trồng nên, từ lúc mà sinh cậu chủ nhỏ tới lúc mà mợ ấy mất, cây hồng này chỉ trơ mỗi cành, trông xấu xí lắm, mà trong khi đó các cây khác đâm hoa kết quả. Mọi người cũng chỉ nghĩ là cây héo chết, nên định đào gốc đem đi đốt lấy than, nhưng mà khi mới chạm dao vào, tự nhiên cả gia đình Tổng đốc lăn ra ốm thập tử nhất sinh, đợt đấy may mà...may mà bà cô trẻ của quan kịp mời thầy xem, nếu không thì...
- Sao lại có chuyện hoang đường như thế được?- Hai Trân nghi hoặc.
- Ban đầu, chúng tôi cũng không dám tin, nhưng thầy số bấm độn nói rằng cái cây hồng này, nó ám vía của mợ Hạnh rồi, không trồng lại cho nó ra lá ra hoa, thì cả nhà gặp họa sát thân! Mà cũng chẳng hiểu sao, trồng lại cây vào chậu, thì cả nhà Tổng đốc lại khỏi bệnh, ông bà quan cũng sợ, nên năm nào giỗ mợ Hạnh cũng phải cắm trên đất cây hồng ba nén nhang, chôn dưới đó một nén bạc rồi sau một tuần lại đào lên. Một điều kì lạ nữa là, tôi nói ở đây để thầy biết thôi, là từ lúc thầy về cái nhà này, là cây hồng nó lại ra lá! Thầy cứ nên cẩn thận, đừng động vào thì hơn!
Nghe xong câu chuyện, Hai Trân cũng rờn rợn tóc gáy, nhìn cây hồng rung rinh trong gió, lại có cảm giác như thân thuộc, hình như đã từng nhìn thấy ở đâu rồi. Mà thôi, vụ con hầu ở cái nhà này đã làm cho cậu thất kinh bạt vía rồi, lần này có gì nữa thì khéo cái mạng này không còn về quê mà viếng ông bà ông vải!
Nam Tuấn trầm ngâm ngồi lặng trong phòng thờ, đoạn giở cây lược gỗ mun bọc trong túi lụa mà ngắm nghía. Cây lược sờn cũ, có vài vết xước nhỏ, hoa văn trên cây lược vẫn còn rõ nét, càng nhìn sâu, đáy mắt Nam Tuấn lại mường tượng ra bao cảnh tượng khác thường. Đầu tiên, anh nhìn thấy hình bóng của người vợ đang ngồi bên mép giường ru con mà ánh mắt mệt mỏi, đến cả cười cũng không cười nổi, tiếng ru à ơi vẫn cứ đều đều, khẽ khàng như tiếng mây gió. Nam Tuấn định giơ tay chạm vào thì bắt gặp một cảnh tượng khác, lại là anh, cắp mũ áo định bỏ đi đâu, người vợ ấy, chạy tới, gào khóc mong anh suy nghĩ lại mà quay về bên gia đình, nhưng anh vẫn cố chấp giật lấy vạt áo đi biệt, mà không biết phía sau đối phương đôi mắt hằn lên tia máu, nước mắt lã chã rơi cùng tiếng lòng nấc lên đau khổ... Tại vì cơ sự nào, khiến Nam Tuấn lại thành ra như vậy, anh vô tình vứt bỏ đi mọi thứ, đến cả người vợ hiền lương hết lòng vì chồng con, anh cũng ép cô ấy ôm một nỗi uất ức tới tận suối vàng. Để rồi, lập bàn thờ để làm gì? Nói mấy lời nhớ nhung thì được ích gì? Chẳng gì cả, người mất thì cũng đã mất, những thứ này chỉ là hình thức để che mắt thiên hạ mà thôi.
Con người chúng ta lạ thật đấy. Khi có tất cả mọi thứ trong tay, ta lại không hề trân trọng, coi chúng như của thừa thãi. Để rồi khi mất đi, thì trong lòng lại tiếc đến muốn giành lại được. Nhưng có lẽ, đối với Nam Tuấn, mối quan hệ giữa anh và người vợ này lại đầy sự nghi ngờ, đến cả anh cũng ngập tràn những rối ren ngay cả chính bản thân mình. Gói cây lược lại, anh khẽ mở cửa, định đi dạo cho bớt nặng lòng, thì thấy ở nơi cửa sổ kia, có cậu trai trẻ đang cần mẫn ghi chép từng chữ trên trang giấy, trước đó, cành hoa hồng với từng lộc non che khuất nửa khuôn mặt thanh tú kia, chỉ hiện lên đôi mắt chăm chú ánh lên vẻ thông tuệ. Nam Tuấn khựng lại vài khắc, ánh nhìn của anh dừng lại nơi dáng vẻ nghiêm chỉnh, bờ môi mỏng, cùng làn da trắng đến tinh khiết kia. Sao lại có người con trai chứa đựng vẻ xinh đẹp đến như vậy? Nhớ lúc cậu ta mới bước chân vào biệt phủ, sự tài tình đối đáp của cậu cùng bề ngoài đĩnh đạc như những anh bạn đồng niên lúc cắp sách tới trường, anh cũng chỉ thấy chút bình thường pha lẫn ấn tượng lúc cậu ta nổi tiếng vì sự vụ ở trường thi. Rồi tới khi cứu cậu lúc đuối nước, mắt cậu nhằm nghiền, hơi thở yếu ớt, anh lại lo lắng đến lạ. Anh đã không chần chờ mà giúp cậu ta hút sạch nước ngập trong phổi. Khoảnh khắc mà môi hai người chạm nhau, người anh vẫn run, hai tai đỏ ửng mà anh cũng không hề hay biết. Đến lúc cậu ta bối rối khi anh hỏi tới "lần đầu", anh cũng khẽ cười nhẹ. Cảm giác đó là thế nào vậy? Anh là đàn ông cơ mà, chẳng..chẳng lí nào lại có cảm giác trước một người cùng giới như vậy. Những việc đó là rất bình thường kia mà, sao tai anh lại đỏ, miệng bất giác lại cười như thế? Hàng loạt câu hỏi như xoáy sâu trong lòng anh, tưởng chừng như không thoát khỏi nó, thì đột nhiên, tiếng vỗ vai đánh "bộp" của Hai Trân làm anh giật mình:
- Ông chủ định đi đâu à?
Hai tiếng "ông chủ"thốt ra, kéo Nam Tuấn khỏi những rối ren khó nói kia, trông thấy đối phương ở trước mắt, anh ngại mà muốn tìm cách chữa cháy. May mắn cho anh, từ cổng, ông Kí Tài, đã gọi với vào nhờ anh coi việc sổ sách ở phố huyện, thế là anh cũng lập tức quay về trạng thái ban đầu, nghiêm túc trả lời:
- Tôi đi có chút việc ở huyện, thầy ở lại vui vẻ nhớ!
Nói đoạn, anh vội vàng xỏ guốc, chạy vào trong lấy giấy bút rồi uống một ngụm trà lớn để định thần lại, rồi lọc cọc đi thẳng hướng về phía cổng, để lại Hai Trân nhún vai, trưng ra cái vẻ mặt khó hiểu, nói:
- Đúng là đồ kì lạ!